Welcome Guys

VIỆT SỬ DD THÔNG LUẬN

Written By Unknown on Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014 | 21:54

VIỆT SỬ DD THÔNG LUẬN
(Khái lược - viết bằng ký ức và nhận thức)



Lược thuật sơ qua về dòng sử chung cả nhân loại, cùng sự biến thiên của mặt địa cầu trước và sau trận đại hồng thủy (Kỷ băng hà) với đôi nét thiết yếu trên quá trình diễn biến.

Trước trận đại hồng thủy, vùng châu Phi và Ấn Độ còn là một vùng đất liền, cũng như vùng Đông Nam Á là giải đất liền suốt từ Nam Dương quần đảo, Mã Lai Á, Phi Luật Tân, Việt, Thái, Miên, Lào, Miến Điện, Trung Hoa …, sau trận động đất đó mới tách rời châu Phi và Ấn Độ mà thành ra có Ấn Độ dương, và tách rời các nước Đông Nam Á như hiện nay. Xem thế đủ thấy một cuộc biến thiên hệ trọng hiểm ác đến chừng nào.

Bởi đó, một số người sống sót kịp trốn thoát lên vùng xứ Tây Tạng ngày nay, vùng này tựa như cái chóp của mặt địa cầu có tên là Palmir với Tu Di Sơn và giải đất Hy Mã Lạp Sơn cao nhất thế giới (Mã Lai Á còn giữ lại tên đó). Số người lên sống ở vùng đó ngày nay sinh sôi nảy nở, vấn đề tìm nơi sống phát sinh ra mọi mặt.

1. Chủng tộc : từng nhóm chủng tộc theo huyết thống hệ cần kết hợp để vừa tìm đất mới và mọi  sinh vật để sống, và chống chỏi lại những gì làm hại. Đó là thời kỳ Du cư nay đây mai đó, lâu dần tiến từ nhóm nhỏ tới biết tổ chức đoàn thể (bộ lạc) có sức mạnh chiến đấu, sống bằng nhặt hái săn bắn, Đó là thời kỳ Du mục. Sinh sôi mỗi lúc mỗi nhiều nhu cầu nhu dụng đòi hỏi phát triển mọi mặt mọi tư duy tăng tiến là nguyên động lực.
2. Kinh tế : khi khối óc nẩy nở, tư duy tiến hóa, sự sống còn hàng ngày mỗi lúc tăng lên thêm, vấn đề kinh tế phát sinh. Đây mới nói về ý nghĩa chân chính đích thực của danh từ Kinh tế, phải do khối óc bàn tay con người khai khẩn tạo tác ra mới gọi là kinh tế, chứ còn trong thời kỳ chỉ biết đói thì đi hái lượm quả nhặt trái cây, săn bắt các sinh vật nhỏ cá, tôm, ếch, nhái … cũng như thời kỳ Du cư Du mục sống chẳng khác mấy mọi loài sinh vật, mà ta gọi là “tự nhiên kinh tế” hay “nguyên thủy kinh tế” là sai lầm căn bản.
Trải qua thời kỳ ăn lông ở lỗ là ăn sống nuốt tươi tựa loài dã thú, dần dần biết biết làm lều chòi trên cành cây để ở qua kinh nghiệm sống và tư duy trí tuệ tiến hóa như ăn quả ném hạt xuống đất thấy nẩy mầm mọc lên cây khai hoa kết quả …, kinh nghiệm sống động ấy nẩy ra vấn đề biết ươm trồng tiến tới kinh tế nông nghiệp và biết phải có nước gần sông hồ …
Từ thời kỳ “duyên sơn” du cư du mục tiến sang thời kỳ “duyên giang”, nông điền nông nghiệp phát triển mạnh, vấn đề trang điền chế độ phú nông với nông nô phát sinh.
3. Tín ngưỡng : con người sở dĩ hơn mọi loài sinh vật khác vì có con tim khối óc, với tư duy trí tuệ siêu việt và biết mọi hành động thích nghi thích hợp thích ứng khi quan sát thiên nhiên, suy nghiệm sự vật, thấy có những các hiện tượng đột hiện đột biến như sấm chớp mưa bão … quan niệm hiện thành những “phạm trù thần” ắt hẳn đã làm ra như thế. Thời kỳ “Thần tắc” với phiếm thần, đa thần phát sinh. Văn hóa là biểu hiện của tư tưởng, tín ngưỡng do tư tưởng kinh tế chính trị xã hội … đều do văn hóa chỉ đạo, kể cả mọi nếp sống khác.
4. Chính trị : ý thức chính trị manh nha từ tín ngưỡng trong thời kỳ “Thần tắc”, từ phiếm thần đến đa thần rồi tới độc thần, biểu hiện ra tổ chức từ tộc trưởng, bộ tộc bộ lạc có tù trưởng lãnh chúa tiến tới thống nhất các bộ tộc bộ lạc thành một quốc gia, có vua quân vương hoàng đế đứng đầu cai trị, đó là từ thời kỳ “Thần tắc” chuyển qua “Đế tắc”, ông hoàng đế thay Trời (độc thần) cai trị dân là thời kỳ chế độ quân chủ xuất hiện, từ Thần tắc (độc thần) chuyển qua Đế tắc (một ông vua), và tiến hóa ý thức chuyển sang “Danh tắc”, là thời kỳ tư duy trí tuệ con người tiến lên cao độ, cực cao độ với những phát minh xây dựng sáng tạo rực rỡ xuất hiện, những dấu tích xưa còn tồn tại đến bây giờ. “Danh tắc” có ý nghĩa Triết học là danh gia, danh xưng, danh tiến, chính danh, hữu danh …, tức là pháp tắc định tắc. Với những nền văn minh sáng chói, những di tích kỳ quan lịch sử như Kim tự tháp, vườn Babylon, tượng thần Zeus, thần Mặt Trời ở Rhodes …và biết bao nhiêu sáng tạo, xây dựng, nghệ thuật cao siêu tuyệt đỉnh còn tồn tại, mà cho tới hiện nay cũng không làm sao so sánh được, đều xuất hiện trong thời kỳ “Danh tắc” để từ “Danh tắc” chuyển sang thời kỳ “Dân tắc” cho tới hiện nay.
Sự tiến hóa có trình tự như về kinh tế từ “Duyên sơn” đến “Duyên giang” rồi “Duyên dương” từ Du cư Du mục Du canh tiến đến nông nghiệp rồi công nghiệp kim long công nghiệp, và nay đang quay về “Duyên sơn” với ý nghĩa khác, trong đó có vấn đề quốc phòng khai khoáng, định luật tiến hóa không ngừng, văn hóa, hinh tế, chính trị, xã hội … đêu tiến hóa theo mỗi chu kỳ, sở dĩ có chu kỳ chính do nấc tiến tiến hóa, bởi bất cứ một sáng tạo nào kỳ diệu hay sáng chói thì với thời gian và quy luật tiến hóa sẽ trở thành xưa cũ, nó dẫn tới nút bế tắc, nút bế tắc này vi diệu bởi tiềm ẩn trong lịch sử bộ sậu, cứ tiềm ẩn tích lũy có trình tự, nhưng bề ngoài thế sự nhiễu tạp đa đoan nên khó nhận nhận biết được, như thế giới hiện nay đang kết thành nút bế tắc sâu rộng nhất. Một biến cách toàn cầu không sao tránh được mà mọi mặt từ tín ngưỡng, văn hóa, nghệ thuật, kinh tế, chính trị, xã hội đều lâm vào hoàn cảnh khủng hoảng, nhất là vấn đề xã hội, vấn đề quá rộng lớn và khẩn thiết là do văn hóa phát sinh. Mượn mấy câu mô tả giản lược như  “cần nghiên cứu hai từ:  VĂN – XÃ, suy nghiệm gồm mọi ngã tương quan, bởi đang sôi sục doanh hoàn, tìm Xã hội mới an toàn dài lâu, cuộc biến cách tất cầu, sáng khởi phát minh nền Văn Hóa mới dần dần ảnh hưởng chung cùng bốn bể năm châu, cho thỏa mãn yêu cầu”.
Xã hội loài người đang tiến trong thời kỳ Danh tắc - Dân tắc.

Bàn thêm vấn đề Xã hội : tiến hoá xã hội y theo vòng xoáy tiến hóa vũ trụ, nhưng vì có tư tưởng giới tham dự, nên có những chu kỳ biện chứng, chính đó là quy luật tiến hóa, cứ mỗi chu kỳ rồi lại lâm vào bế tắc, giải cái nút bế tắc đó là mộ biến cách Cách mạng. Để giải quyết nút bế tắc xã hội hiện nay đang tới thời kỳ cực độ bế tắc, tất yếu phải có một sáng tạo mới thích hợp, nguyên nhân của sự bế tắc này rất xâu xa, trong bài này không nói rõ được  vì quá rộng và quá dài. Luận sơ từ thời “Dân tắc”, cụ thể biểu hiện ra các chế độ chính trị gọi là “Dân chủ” tiến đến từ cuộc biến tại nước Pháp Âu Châu thế kỷ thứ 16, gọi là Ba lê (Paris) công xã …, để rồi tiến tới Thế chiến I mà cuộc Cách mạng tháng 10 của Nga Sô xuất hiện, thành lập Đệ tam Quốc tế Cộng sản chủ nghĩa Marx Lenin do Lenin lãnh đạo, với chủ trương đấu tranh giai cấp, tiến tới đích thứ nhất thực hiện Xã hội chủ nghĩa vô sản chuyên chính …, để rồi tiến lên mục đích Cộng sản là vô sản toàn thế giới, Xã hội vô giai cấp (chỉ có một giai cấp Vô sản) …thực tế ý nghĩa của giai cấp xã hội chỉ là cái bệnh bệnh thái phát sinh từ khi có trang điền với chế độ nông nô, công nghiệp phát triển với chế độ chủ thợ …, nó liên hệ tới kinh tế, chính trị, xã hội trên phần cộng hợp tác hỗ tương, đó là ý nghĩa của “Xã Hội tự tánh” loài người vốn tự có sau “Nhân tính” (đề xướng đấu tranh khác nào lấy bệnh trị bệnh, cho bệnh càng thêm nặng). Lây một hài nhi làm thí dụ cho loài người khi mới xuất hiện như : con người có ba (3) “Thiên tính”. Thiên tính thứ nhất là Thiên chân như hài nhi mới lọt lòng, hồn nhiên vô cầu vô dục …, Thiên tính thứ hai là Nhu yếu tính, ví như đói khóc đòi ăn, no ngủ yên (hàm ý kinh tế), Thiên tính thứ ba là Xã hội tính, như vui thích khi có người ẵm bế vỗ về, người ẵm bế đã hàm tính Xã hội, bởi xã hội có nghĩa là có liên hệ với tha nhân (Xã hội không biên giới, quốc gia có biên giới).

A. Lược luận về nguồn gốc chủng tộc Bách Việt *: Một số người liên hệ huyết tộc chạy thoát sau trận Đại hồng thủy lên vùng Tây Tạng – Parmia – Tu Di sơn và Hy Mã Lạp sơn, mỗi ngày sinh sôi nẩy nở thêm nhiều, cần tìm sự sinh sống trải qua thời kỳ nhặt hái Du cư và thời kỳ săn bắn Du mục, với kinh nghiệm sống và ngày càng sinh sôi nẩy nở thêm nhiều cùng với tư duy tiến hóa, qua thực nghiệm biết ươm trồng là cần có nước, đất cần mềm và ẩm ướt, cho nên tìm xuống miền có sông ngòi là con sông Hoàng Hà, chảy từ miền Tây Tạng xuống vòng lên phía Bắc rồi lượn xuống dưới chảy ra biển về hướng Đông Bắc thuộc tỉnh Sơn Đông nước Tầu ngày nay. Thời đó hoàn toàn hoang dã. Những người di cư xuống đồng bằng đã phát triển nghề nông ngư …, ngày càng trở thành phồn thịnh, ở Sơn Đông có giải núi Thái Sơn, người cổ Việt chiếm Thái Sơn làm Cơ đại, Hoa địa đã biết lập đàn Tế Thiên (xem Việt sử DD Thông luận có nói rõ). Thời kỳ này thuộc “Thần Tắc – Đế Tắc” rồi qua “Danh Tắc”, trình độ tư duy trí tuệ của con người rất cao, do còn lưu truyền lại những di tích tài liệu vào thời kỳ đó như sau : Bào Hy trị tức Phục Hy cổ thánh, là sáng tổ của Dịch học là môn học gồm đủ mọi phương diện cổ học, bao hàm vạn tượng khởi từ nét vạch      rồi ra nét       hình thành hai nghi biểu tượng Dương và Âm, lại cũng là sáng tổ của môn phái Y học với quyển “Thiên Nguyên Ngọc sách” cũng chỉ mới truyền lưu bằng khẩu truyền (nói rõ sau), khi đó chưa có nòi giống Hán. Tới thời Viêm Đế Thần Nông là một thủy tổ về ngành nông nghiệp (dậy dân phương pháp nghề nông), và cũng lại là thủy tổ ngành dược khoa với cuốn “Bản Thảo”, tức là đầu tiên biết phối hợp dùng các loại cây cỏ để trị bệnh, hiện còn lưu truyền đến hiện nay.
B.  Nòi Hán xuất hiện, một giống người từ vùng Cận Đông, vịnh Ba Tư còn sống Du mục bằng nghề săn bắn tiến vào vùng Tây Bắc nơi Cam Túc Ninh Hạ nước Tầu hiện nay, sống bằng nghề săn bắt có tổ chức với sức mạnh thiện chiến, đi đến nơi thấy dân bản địa sống nghề nông phồn thịnh lại hiền hòa, khiến họ tiến đánh chiếm dần, dân bản địa được an hưởng đã lâu lại chia nhỏ hàng trăm ngành (nhóm), không quen chiến đấu nên cứ lui dần về miền trung có con sông Dương Tử, nay gọi là Trường Giang, bờ Nam có Ngũ Hồ Ngũ Lĩnh, tới đời cổ thánh Viêm Đế Thần Nông, nòi Hán đã xâm chiếm địa bàn của dân Việt, mà hầu hết từ bờ Bắc Trường Giang trở lên trên. Đây thuộc về “Hỗn hóa thời kỳ”, ước phỏng trên dưới 10.000 ngàn năm, thời kỳ “Đế tắc – Danh tắc”. Một phần dân cổ đại Bách Việt ở lại, sau bị đồng hóa dần. Trong thời kỳ “Đồng hóa” thì nòi Hán đã có Hiên Viên thị Hoàng Đế, gần ngay sau thời Viêm Đế Thần Nông không xa mấy, ước đoán là trận đánh đẫm máu giữa Suy Vưu – Hoàng Đế, mà Suy Vưu là con của Viêm Đế đại biểu cho giống nòi Bách Việt, trận đánh tại vùng Trác Lộc trong bẩy năm máu sông xương núi không phân thắng bại, khiến Hoàng Đế phải lập đàn có hình tròn vuông biểu tượng Trời Đất Âm Dương, do đã chiếm được địa bàn và học được cách sử dụng của người cổ Việt, để tế lễ trời đất quỷ thần cầu phù trợ làm khích lễ tinh thần tướng sĩ rồi mới thắng được trận đánh đó. Suy Vưu đại bại thì dân cổ Việt coi như bị tước đoạt hết mọi mặt, kể cả người còn ở lại vùng bị chiếm đóng. Còn từ bờ Nam Dương Tử về sau còn một trận đánh tranh hùng giữa Tây Bá Sở Vương là Hạng Vũ với Lưu Bang tức Hán cao tổ, Hạng Vũ thế cùng tự sát tại bờ Bắc Ô Giang, thế là nòi Hán chiếm hết cho tới biên giới Việt Hoa ngày nay. Tuy có một thời rộng tới cả Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Tây… cho xuống tới đảo Hải Nam, nhưng đó lại thuộc thời của Tiểu Việt (Lạc Việt) ta ngày nay.
Nói rõ thêm về “Thiên Nguyên Ngọc sách” và “Bản Thảo” tức là Dược Khoa cổ nhất hiện nay của vua Thần Nông dậy dân nghề nông có phương pháp khoa học tiến bộ nhất trong thời kỳ cổ đại.
Căn cứ bộ “Y Học nhập môn” cổ xưa nhất và đầy đủ nhất, kể từ thời  sau Hoàng Đế, đông y giới người Việt xưa coi trọng vì có đủ mọi mặt, kể cả Y, Lý còn có tên gọi tắt là “Hiên Kỳ”, nguyên lai như sau (rút gọn), trong đó có mục đề là “thượng cổ thánh hiền” dưới chú thích: “Tam đại dĩ tiền thánh quân hiền tướng  vi ý dĩ tế tử sinh lai dã”, đại ý : “trước đời Tam đại (tối thượng cổ) vua Thánh tướng Hiền làm thuốc để giúp tử sinh (trị bệnh).
1. Phục Hy thị: chú thích “Hữu Thiên Ngọc sách” nãi Quỷ Du Khu, thập thế tổ, khẩu tụng nhi truyền chi. Đại ý : họ Phục Hy có quyển Thiên Nguyên Ngọc sách, là tổ mười đời của ông Quỷ Du Khu, chỉ truyền bằng miệng (chưa có văn tự). Sacxh Tố Vấn chép nhiều câu trong sách này.
2. Hoàng Đế thị : chú thích “dữ hạ cửu nhân, canh tương vấn đáp, tác Linh Khu Tố Vấn. Đại ý : Hoàng Đế cùng với cửu (chín) người dưới (bày tôi), cùng thay nhau vấn đáp, làm ra quyển Linh Khu Tố Vấn.
3. Kỳ Bá : người này đáp mỗi câu gì mà Hoàng Đế hỏi về Y khoa, sau đó gọi tắt là Hiên Kỳ.
4. Có ba tên : Bá Cao, Thiếu Du, Quỷ Du Khu chú thích “Hoàng Đế tam thần dã” là ba bầy tôi của Hoàng Đế vậy, phát minh Ngũ Hanh, tường luận mạnh lý, dĩ vi Kinh Luận”. Nghĩa : ba người này phát minh Ngũ Hành luận rõ về mạnh lý, lấy đó là thành sách Kinh Luận (thảo luận).

Trong bộ Uyên Hải Tử Bình, thuộc sách về Lý Số học, có chép rõ trận đánh tại Trác Lộc giữa Suy Vưu và Hoàng Đế, Hoàng Đế phải đắp đàn hình tròn vuông tượng trưng cho Trời Đất Âm Dương, và ghi Suy Vưu là con của vua Viêm Đế, chú thích thêm là Suy Vưu là loài yêu quái ghê gớm (ý miệt thị nòi giống Việt). Các loại sách chuyên khoa thuộc loại “cưu lưu thuật sĩ”, người Hán vô tình sơ ý không xuyên tạc như các loại sử học đã xuyên tạc về nguồn gốc thật, cho nên người viết sử Tầu không có đầu đuôi lộn xộn và làm sai lạc về ngồn gốc giống nòi Bách Việt. Lại còn nhận Viêm Đế với Hoàng Đế là thủy tổ của nòi Hán như câu : “ngã quốc nhân vi Viêm Hoàng đích miêu duệ”, có nghĩa là : người nước ta đích thực là nòi giống của Viêm Hoàng (cũng có nghĩa là gồm cả hai nòi giống Việt Hán vơ chung vào làm một).

C. Nguồn gốc nòi giống Hồng Lạc, phần trên gọi là Tiểu Việt là để đối với Đại Việt (Như giống dân  Âu Việt 甌越  thì ở Chiết Giang 浙江, Mân Việt 閩越  thì ở Phúc Kiến 福建, Dương Việt 陽越  thì ở Giang Tây 江西, Nam Việt 南越  thì ở Quảng Đông …) đã đành, còn vì lẽ nữa quan trọng và có ý nghĩa sâu xa như sau, cần chú ý đặc biệt.
v  Hồng Lạc là ngành trưởng trong trăm ngành của chủng tộc Bách Việt, được thụ mệnh chân truyền chính thống, căn cứ ngoại sử, cổ sử, truyền thuyết, thần thoại, phong tục tập quán lưu truyền cho tới hiện nay tại các địa phương, với các di tích lịch sử còn lưu lại, thì thủy tổ nòi giống Hồng Lạc là cháu bốn đời của vua Viêm Đế Thần Nông.
v  Danh hiệu Hồng Bàng Thị鴻龐氏, Kinh Dương Vương () . Cần suy nghiệm phân tích sâu xa, để rồi siêu nghiệm từ danh hiệu đến nội dung hàm tàng có tính chất huyền tượng siêu tượng của hai chữ Hồng Bàng 鴻龐 : chữ Hồng do chữ giang ghép với chữ điểu là chim, chim Hồng trên sông nước, to lớn (cùng nghĩa với chữ hồng bộ thủy : to lớn cao cả, hồng lượng 洪量  lượng cả, hồng phúc 洪福  phúc lớn.). Chữ Bàng thuộc bộ an (nghiễm, yểm) 广 (giãn thể của chữ quảng : rộng, mở rộng), trong có chữ long là rồng. Ý nghĩa về hình thức cụ thể như : Hồng là con chim Hồng, Hồng Nhạn cao phi, chim Hồng chim Nhạn bay cao, Hồng Hộc chi chí, chí khí lớn bay cao xa như chim Hồng, chim Hộc (ngỗng trời), hồng đồ đại kế hoạch (hồng chí : chí khí lớn, hồng nghiệp : đế vương đại sự nghiệp) …, và chữ Bàng : 龐大  rất to lớn, kế hoạch bàng đại, quảng đại.
v  Còn chữ Kinh Dương Vương () : chữ kinh này có nghĩa là : to lớn, là kinh đô, kinh kỳ, kinh sư đất rộng lớn nhiều người Còn chữ kinhnày có nghĩa là : đạo thường, đạo đức pháp luật đã định không thể thay đổi được gọi là kinh, như : thiên kinh địa nghĩa 天經地義  nói cái đạo thường như trời đất không thể di dịch được, tài lược kinh quản. Kinh sách như : như Thi Kinh 詩經, Thư Kinh 書經, Hiếu Kinh 孝經... Về khoảng trời không gian và quả đất thì lấy con đường Nam Bắc cực chính giao với xích đạo gọi là kinh, như kinh tuyến 經線  theo hướng Nam Bắc, vĩ tuyến 緯線  theo hướng Đông Tây... . Chữ Dươngcó nghiã là : mặt trời, thái dương, dương quang, hướng Nam, mặt núi phía nam cũng gọi là dương. Như Hành dương 衡陽  phía nam núi Hành… . Đó là những ý nghĩa hình thức cụ thể, nếu kết hợp với tượng hình hai chữ Hồng Bàng này gợi lên ý chim Hồng bay bổng trong không gian, có Thần Tiên ở cõi trên trong trời xanh thẳm, gợi ý bên bờ một giải núi phía Nam có hang động của con rồng thiêng ẩn phục ở bên trong, hoặc Tiêngia tu luyện trong núi … thấy phảng phất ẩn dấu bên trong hai chữ nghi biểu Tiên Rồng là nghi biểu, hèm, totem, phạm trù… của giống dân Lạc Việt, để rồi đi tới hiện thực thực tiễn biểu hiện ra là tổ phụ Lạc Long Quân với tổ mẫu là Âu Cơ thuộc dòng Vụ Tiên (Thái) tức là hai ngành Lạc Việt với Âu Việt kết hợp lại thành dòng giống Lạc Hồng.
v  Từ siêu huyền linh tượng dẫn tới hiện thực biểu hiện nên nguồn gốc là như vậy, nhưng còn về phần triết hệ, ý thức hệ, triết lý, minh triết, minh lý hàm tàng ở bên trong phạm trù Tiên Rồng do thánh minh quốc tổ Việt đã sáng tạo ra, dấu ngầm trong đó thật là cao thâm viễn đại, bao hàm tất cả mọi ngành triết học cổ kim Đông Tây, (may) nhờ (sau này) có (được một) siêu nhân xuất thế mới bừng ngộ làm sáng tỏ mật ý tổ hồn dấu ẩn kín từ muôn năm xưa, trong tập “Nền tư tưởng cổ Việt” có giải luận sơ lược nhưng rõ ràng với đôi đối này đã nêu ý nghĩa với cách giản hóa.

Vô, Nhất, Đa nguyên bừng giác ngộ Tiên Rồng sáng tỏa
Nhiên, Nhân, Dân hệ mở phong trào Xã hội yên vui

Tới đời vua Hùng thứ sáu, có thuyết bánh chưng bánh giầy, lược bỏ đi phần hình thức lễ nghi để tiến sâu vào siêu thức, thì bánh giầy tròn mầu trắng, bánh chưng vuông mầu ngoài xanh trong vàng, tiềm ẩn hiện ra hình tượng hai chữ Tiên Rồng với Âm Dương, động tĩnh, vật chất, tinh thần và Vô, Nhất, Đa nguyên …, đến cuối tới đời vua Hùng Vương thứ mười tám đức Tản Viên Sơn thánh lại sáng khởi lên thuyết sách ước gậy thần, lại càng làm sáng tỏ thêm đầy đủ thêm triết lý ẩn trong hai chữ Tiên Rồng, đó là thần vật hóa mà phải nhờ có được bậc siêu nhân thánh trí mới khải ngộ được.

Ngành Hồng Lạc là ngành trưởng trong trăm ngành sắc tộc Bách Việt, được thụ mệnh chân truyền chính thống, uyên nguyên truyền thống nên phải nhận gánh vác sứ mệnh và trách niệm  tối thiêng liêng  và vô cùng nặng nề lâu dài để bảo tồn giống nòi, và những gì các bậc Tiên Thánh của giống nòi đã mật tàng hay minh thị từ muôn xưa để lại.

Cơ trong mật lý nên thần dụng
Đạo ở nhân tình chớ dị đoan
Trích trong bài Tiên Long châu hành

Với sứ mệnh và trách nhiệm vô cùng nặng nề đó, nên nước Lạc Việt đã bao phen tưởng như bị đồng hóa tiêu vong hay gắt sau trận chiến Trác Lộc đẫm máu, trận Hán Sở tranh hùng, và hơn ngàn năm Bắc thuộc với nhiều trận chiến gian khổ để giành lại tự chủ độc lập …, liên tiếp những đời nhà Tần, Hán, Đường, Tống, Nguyên, Thanh … xâm đoạt thiêu hủy vậy mà nước Tiểu Việt - Hồng Lạc (Lạc Việt)ngành trưởng vẫn tự chủ quật khởi đánh đuổi giặc Hán xâm lăng, bao phen đất nước trải qua đẫm máu tang thương mà rỗi vẫn còn tồn tại oai hùng. Kể từ vua Đinh Tiên Hoàng đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, tiếp đến các đời tiền Lê, Lý, Trần, Lê đều xưng quốc hiệu là Đại Việt ** (bỏ chữ Cồ), cho đến dời nhà Nguyễn vua Gia Long tới nay mới đổi quốc hiệu là Việt Nam cho tới nay.

Cần minh định hai chữ Việt để sau này sẽ nêu ra làm sáng tỏ cội nguồn, chữ Việt này (thuộc bộ Mễ : Nước Việt, đất Việt, cùng nghĩa như chữ việt . Tỉnh Quảng Đông 廣東, Quảng Tây 廣西  nguyên trước là đất của Bách Việt 百粵, nên Tàu họ gọi hai tỉnh ấy là tỉnh Việt) thời cổ Việt di truyền mới là danh hiệu của giống nòi Việt, bên trong có chữ Mễ là lúa gạo liên hệ đến nông nghiệp thời vua Thần Nông với nhiều hình tích lưu lại trong sách xưa như : Việt Hán thiết lộ 粵漢鉄路 đường xe lửa Việt Hán, chữ Việt tức là cổ đại Đông Di chủng tộc (cách nhà Hán gọi các chủng tộc khác là Man, Di …, Việt Đông Việt Tây với Việt Kê cổ từ thời Đế Nghiêu … đều là chữ Việt, cả miền Nam Trường Giang còn lại dấu tích, bia mộ, sách vở … bên Tầu đều đã dùng chữ Việt .

Với danh hiệu Việt Nam越南ngày nay, là chữ Việt (thuộc bộ tẩu) tuy có ý nghĩa là ưu việt, siêu việt, vượt qua … (cũng có một số tên nước Việt dùng chữ Việtnày ở vùng Ngô Việt tỉnh Triết Giang ở phía Đông Nam nước Tầu), còn có thuyết cho rằng nòi Hán ngụy tạo ra do sách vở của họ có ý ngầm miệt thị, mỉa mai dân tộc Bách Việt thua chạy về phái Nam như chó chạy, vì do có chữ Tẩu là chạy ghép với chữ Tuất (tuổi Tuất) là chó thành chữ Việt , đúng sai sẽ sau này sẽ rõ …

Thuyết “nhất bào sinh bách noãn, ngũ thập quy sơn, ngũ thập quy hải”, có hàm chứa hai ý nghĩa : một là giống nòi Bách Việt phân cư để trành nòi Hán đồng hóa, hai là tuy chia trăm ngành nhưng cùng một đồng bào (chủng tộc) một tổ sinh ra, cần cùng nhau đoàn kết thương yêu bảo vệ sự sống còn, cùng chung nhau mở mang bờ cõi, cùng đùm bọc nhau để phát triển …(hạt máu đào hơn ao nước lã). Mai đây sẽ vận động toàn vùng Đông Nam Á để kết hợp thành một khối là điều tất yếu.

Đã gần bốn mươi năm kể từ năm 1943 -1944 đã tiên đoán thế giới tất nhiên và tất yếu sẽ tiến tới thành lập những tập đoàn (khối) ở mỗi vùng, nhưng phải trải qua “giả thành lập” là do các cường quốc đế quốc mưu đồ lợi dụng trước đã, cũng gọi là “tập đoàn an toàn giả”, cũng là do xu thế tất yếu, cho nên “giả sẽ hóa thật”, bao khối tập đoàn giả lập, rồi sẽ hoặc tự tan vỡ như năm nước “liên phòng Đông Nam Á”, cũng như “thị trường chung châu Âu” đã trở thành tập đoàn an toàn chân chính. Khi nào cuộc vận động trong vùng phát khởi, trước hết phải có “tối cao chỉ đạo” là “nền Văn Hóa cộng đồng” đúc kết nên, qua nhào nặn gạn lọc lấy những tinh hoa của mỗi nước trong vùng đã được cùng nhau công nhận để làm kiêu mẫu cho nền Văn Hóa Cộng Đồng rồi sẽ tiến dần tới “Thế giới Đồng Nhân” sau này, đó là mục đích tối thượng “viễn tức cứu cánh mục đích”, sẽ hoàn thành khoàng cuối (hoặc sau) năm 2000. Vùng Đông Nam Á sau khi đã thành lập được tập đoàn (khối) rồi sẽ tiến tơi “Đại Nam Hải Liên Bang Cộng Hòa”, đó là dự kế của “Đại đồng Tiểu dị”.

Luật tiến hóa đi đôi với luật tuần hoàn, sẽ trở lại thời kỳ “Đế tắc” tức là thời “Đế tắc – Dân tắc” nhưng tiến hóa tân kỳ đặc dị, ví dụ như : chế độ “Quân Dân cộng nhiệm” hay “Quân Dân phân nhiệm” (một dạng như Quân chủ lập hiến, Quân Dân lập hiến) … và không còn tranh chấp (vì vua cũng phải tôn trọng luật, pháp luật là tối thượng) để đạt tới hòa hài. Vận hội là những chu kỳ tiến hóa, có Đại vận hội, Trung vận hội, Tiểu vận hội, cũng gọi là từng chu kỳ, sở dĩ có là do Biện chứng tiến hóa từ Vũ trụ vào Xã hội loài người đều tiến hoá theo vòng xoáy, nhưng tiến hóa của Xã hội có tư tưởng giới tham dự, có những chu kỳ của cấp trung vào khoảng 500 năm (tiểu và thập niên),

Ngược dòng sống sử của nòi giống Lạc Hồng, thấy một vận hội suy vi tới nay đã khoảng 3000 năm, kể từ khi Thục An Dương Vương cướp ngôi vua Hùng, thánh Tản Viên Nguyễn Tuấn bỏ đi tu tiên với câu chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh (không thẩy xoay chuyển được cơ trời vận suy), đó là vì dong Âu Việt cướp ngôi dòng Lạc Việt, với Loa Thành và Nỏ thần chứa đầy sáng tạo tân kỳ, nhưng chưa được bao lâu thì mất nước vào tay Triệu Đà nòi Hán. Tới đời vua Đinh Tiên Hoàng lập nên triều nghi chế độ, rồi kế tiếp các đời nhà tiền Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn … có mấy lúc thật sự độc lập mà không bị triều cống xưng thần hay chèn lấn đâu ? (có nào thời gian thật sự được yên ổn thái bình lâu, nếu không bị triều cống để được yên ổn một thời gian, thì lại bị xâm lăng chèn lấn giặc trong thù ngoài luôn làm bất ổn, không thể xây dựng kiến thiết được một xã hội nhân bản hùng mạnh như thời vua Hùng), hơn nữa từ khi vua Lê Thánh Tôn băng hà cho tới nay đã 500 năm luôn bất ổn loạn ly chưa dứt, đó chính là cái vốn liếng đau nhục để kết tinh và để “chung linh dục tú” (đúc kết thúc đẩy tạo thành linh khí), để rồi sẽ “đỉnh xuất siêu nhân” (tột đỉnh xuất hiện ra siêu nhân), làm sáng khởi tao thành một nên Văn Hóa Mới để làm Tối Cao chỉ đạo đưa dân tộc và xã hội vào kỷ nguyên thái hòa.

Lịch sử bộ sậu diễn biến có trình tự thứ đệ,(1) không như thời sự nhiễu tạp. Như đã nói, hiện nay đang thời “Danh tắc” – “Dân tắc”, chế độ đế chế chuyển sang chế độ dân chủ, đang tiến tới cực cao điểm là Xã hội chủ nghĩa phát sinh, để tiến tới một khối các nước theo chủ nghĩa xã hội theo ý thức hệ Mác-Lê, với người theo chủ nghĩa cộng sản xuất hiện, ẩn hiện hầu hết khắp năm châu, cơn sốt dân chủ của thời kỳ “Dân tắc - Danh tắc” đã tới thời kỳ cực điểm khiến nhân loại phát điên cuồng! (để rồi “nhân loại thức tỉnh triệt để đến đáy tầng của dân tộc” cái chủ nghĩa cộng sản thực sự là phản nhân bản) Một biến cách tất nhiên và tất yếu sắp xẩy ra dể cởi nút kết bế tắc vi diệu. cơn điên sốt dân chủ do Văn a tối cao chỉ đạo chính là do chủ nghĩa Mác-Lê đã dẫn khởi lên (và ngày nay thực sự đã tàn lụi).
Cơn điên sốt dân chủ do văn hóa tối cao chỉ đạo là chủ nghĩa Mác Lê phát khởi đó. Luật tiến hóa lại đi đôi với luật tuần hoàn nên sẽ trở lại thời đế chế nhưng vì tiến hóa nên sẽ là “Dân tắc – Đế tắc” (“quân dân công nhiệm”) hoặc “quân dân cộng chủ” hay gì tương tự nghĩa đó) (2).
Một sáng tạo tân kỳ cao thâm viễn đại xuất hiện, để dẫn khởi thực hiện thời đại mới, dựng nền văn minh mới cho dân tộc và xã hội đạt tới hài hoà tươi sáng chung cho toàn cả giới loài người, phải có dự kế để thẩm thấu thấm nhuần do thời gian; cho nên một nhỡn quang (tầm nhìn xa rộng) tiên kiến đón đầu đi trước, để nắm đúng thời cơ chân chính, và tối hậu là điều kiện tối cần và tối hệ trọng không thể thiếu. Bởi đó như trên đã nói: Một kết tinh “đỉnh xuất siêu nhân”…”siêu phàm nhập thánh” mới có thể đảm đương sứ mệnh và trách nhiệm vô cùng vĩ đại này tạo sự nghiệp trọng đại thâm viễn (sâu xa) từ cổ tới kim chưa từng có như thời đại này. Vì vậy một nhỡn quang tiên kiến đón đầu đi trước 40 năm chỉ là vừa đủ, cho thấm nhuần thẩm thấu sâu rộng để thích ứng thới cơ.

Mùa Xuân Tân Dậu, 1981
Việt Đăng
____________________

Ghi Chú (của người đánh máy)

(1) thứ đệ nghĩa là từ trên xuống dưới.

(2) Ngày nay nhiều nứơc theo chế độ “quân chủ lâp hiến”.
21:54 | 0 nhận xét | Read More

Tiểu Sử Lý Ðông A

Tiểu Sử Lý Ðông A
X.Y. Thái Dịch Lý Ðông A tên thật là Nguyễn Hữu Thanh, sinh năm 1920, tuổi Canh Thân, mệnh Mộc, tại huyện Kim Bảng  tỉnh Hà Nam. Ông thông hiểu về Dịch Lý, Phật Học, và Lịch Sử, v.v... khi mới 16 tuổi. Theo lời kể, ông được linh quang thần nhập thể  vào lúc 16 tuổi, nên được khai mở trí tuệ: đọc rất mau, thâu tóm tư tưởng rất lẹ. Năm 1942, Ông đến thư viện Liễu Châu (Trung Hoa) để kiểm lại các sách viết về triết học, lịch sử, xả hội, khoa học Tây Phương và Ðông Phương, nghiên cứu địa lý Trung Hoa, đồng thời khảo sát thêm về lịch sử và văn minh Việt. Tại đây, Ông bắt đầu viết các sách thuộc bộ “Ðại Việt Duy Dân  Ðại Cương Thảo Án Quốc Sách Toàn Pho”, tức là các sách thuộc chủ thuyết Duy Dân Nhân Chủ. Sách Ông viết rất nhiều (khoảng 30 bộ) nhưng phần lớn không được phổ biến vì nhiều lý do, và một số bị thất lạc. Sách của Ông dùng nhiều từ ngữ Hán Việt, ý tưởng rất xúc tích, cách trình bày với dạng thức đặc biệt. Lý Ðông A khai triển văn hóa và truyền thống dân tộc kết hợp với các suy tư về sự kết cấu xã hội nhân loại và xã hội tự tính để lập thuyết. Một cách giản lược, lấy người làm trục, căn bản triết lý của chủ nghĩa Duy Dân có ba bình diện là ba thành phần biện chứng đưa đến một quan điểm thống nhất, đại đồng, chân xác về người:
― Vũ trụ: duy nhiên, vô nguyên.
― Nhân loại: duy nhân, nhất nguyên.
― Dân tộc: duy dân, đa nguyên tương đối.
Vũ trụ là một lãnh vực thuần túy khách quan...trong đó con người là sinh vật đặt thù luôn luôn có nổ lực vượt trên vận động tự nhiên để thành lập xã hội nguyên thủy là xã hội tự tính, từ đó con người mới xứng danh là người. Ý niệm xã hội là ý niệm căn bản của mọi quan điểm về người. Ngày 1 tháng 1 năm 1943, X.Y. Thái Dịch Lý Ðông A sáng lập và là Thư Ký Trưởng Việt Duy Dân Ðảng để đấu tranh chống Pháp và chống Cộng. Vì thời cơ chưa đến với người Quốc Gia chân chính, nên sau trận Nga My (1945) và Hòa Bình (1946) đấu kháng với Cộng Sản, Ông tuyên bố giải tán Ðảng và biệt tích, lúc ấy Ông 26 tuổi. Sau năm 1946, người ta không còn ghi nhận những hoạt động nào của Ông, ngoài những lời đồn đãi là Ông đã bị Cộng Sản thủ tiêu như đã thủ tiêu lãnh tụ của các đảng phái cách mạng thời đó. Tuy nhiên các cơ quan tình báo Pháp và ngay cả Cộng Sản Việt Nam đã không có bằng chứng nào chứng tỏ là Ông đã bị sát hại cả. Nhà cách mạng Lý Ðông A đã quyết tâm đi làm cách mạng cứu nước giữ nòi bằng cả trái tim đầy máu nóng, một lòng yêu nước thương nòi nồng nàn. Các tác phẩm của Ông ngoài phần văn chương trác tuyệt và tâm huyết ngút trời đối với Quốc Gia Dân Tộc, còn là một hệ tư tưởng tuyệt vời cao sâu thực tiển, nhân ái, viễn kiến chính trị suốt dọc, làm nền tảng cho cuộc cách mạng phục hoạt sắp tới cho dân tộc Việt và là một cuộc cách mạng khuôn mẫu cho nhân loại sau này. Các tác phẩm của Ông đã được xuất bản : Ðạo Trường Ngâm, Huyết Hoa, Chu Tri Lục, Duy Nhân Cương Thường, Thiết Giáo, Việt Sử Thông Luận, và một số tài liệu .
Tóm lại, lãnh tụ X.Y. Thái Dịch Lý Ðông A được kể là một trong số ít triết gia Việt Nam, một nhà cách mạng nhân bản xã hội, một nhà chính trị đạo đức, một nhà đại thi hào của dân tộc .
Gió Đáy thuộc Duy Dân Học Xã, xuất bản thứ nhất tại Sài Gòn, Việt Nam tháng 9 năm 1969 ( Kỷ Dậu 4848 tuổi Việt )
21:45 | 0 nhận xét | Read More