VIỆT SỬ DD
THÔNG LUẬN
(Khái lược - viết bằng ký ức
và nhận thức)
Lược
thuật sơ qua về dòng sử chung cả nhân loại,
cùng sự biến thiên của mặt địa cầu trước và sau trận đại hồng thủy (Kỷ băng hà)
với đôi nét thiết yếu trên quá trình diễn biến.
Trước trận đại hồng thủy, vùng châu
Phi và Ấn Độ còn là một vùng đất liền, cũng như vùng Đông Nam Á là giải đất liền
suốt từ Nam Dương quần đảo, Mã Lai Á, Phi Luật Tân, Việt, Thái, Miên, Lào, Miến
Điện, Trung Hoa …, sau trận động đất đó mới tách rời châu Phi và Ấn Độ mà thành
ra có Ấn Độ dương, và tách rời các nước Đông Nam Á như hiện nay. Xem thế đủ thấy
một cuộc biến thiên hệ trọng hiểm ác đến chừng nào.
Bởi đó, một số người sống sót kịp trốn
thoát lên vùng xứ Tây Tạng ngày nay, vùng này tựa như cái chóp của mặt địa cầu
có tên là Palmir với Tu Di Sơn và giải đất Hy Mã Lạp Sơn cao nhất thế giới (Mã
Lai Á còn giữ lại tên đó). Số người lên sống ở vùng đó ngày nay sinh sôi nảy nở,
vấn đề tìm nơi sống phát sinh ra mọi mặt.
1. Chủng tộc : từng nhóm chủng
tộc theo huyết thống hệ cần kết hợp để vừa tìm đất mới và mọi sinh vật để sống, và chống chỏi lại những gì
làm hại. Đó là thời kỳ Du cư nay đây mai đó, lâu dần tiến từ nhóm nhỏ tới biết
tổ chức đoàn thể (bộ lạc) có sức mạnh chiến đấu, sống bằng nhặt hái săn bắn, Đó
là thời kỳ Du mục. Sinh sôi mỗi lúc mỗi nhiều nhu cầu nhu dụng đòi hỏi phát triển
mọi mặt mọi tư duy tăng tiến là nguyên động lực.
2. Kinh tế : khi khối óc nẩy nở,
tư duy tiến hóa, sự sống còn hàng ngày mỗi lúc tăng lên thêm, vấn đề kinh tế
phát sinh. Đây mới nói về ý nghĩa chân chính đích thực của danh từ Kinh tế, phải
do khối óc bàn tay con người khai khẩn tạo tác ra mới gọi là kinh tế, chứ còn
trong thời kỳ chỉ biết đói thì đi hái lượm quả nhặt trái cây, săn bắt các sinh
vật nhỏ cá, tôm, ếch, nhái … cũng như thời kỳ Du cư Du mục sống chẳng khác mấy
mọi loài sinh vật, mà ta gọi là “tự nhiên kinh tế” hay “nguyên thủy kinh tế” là
sai lầm căn bản.
Trải qua thời kỳ ăn lông ở lỗ là ăn sống
nuốt tươi tựa loài dã thú, dần dần biết biết làm lều chòi trên cành cây để ở
qua kinh nghiệm sống và tư duy trí tuệ tiến hóa như ăn quả ném hạt xuống đất thấy
nẩy mầm mọc lên cây khai hoa kết quả …, kinh nghiệm sống động ấy nẩy ra vấn đề
biết ươm trồng tiến tới kinh tế nông nghiệp và biết phải có nước gần sông hồ …
Từ thời kỳ “duyên sơn” du cư du mục tiến
sang thời kỳ “duyên giang”, nông điền nông nghiệp phát triển mạnh, vấn đề trang
điền chế độ phú nông với nông nô phát sinh.
3. Tín ngưỡng : con người sở
dĩ hơn mọi loài sinh vật khác vì có con tim khối óc, với tư duy trí tuệ siêu việt
và biết mọi hành động thích nghi thích hợp thích ứng khi quan sát thiên nhiên,
suy nghiệm sự vật, thấy có những các hiện tượng đột hiện đột biến như sấm chớp
mưa bão … quan niệm hiện thành những “phạm trù thần” ắt hẳn đã làm ra như thế.
Thời kỳ “Thần tắc” với phiếm thần, đa
thần phát sinh. Văn hóa là biểu hiện của tư tưởng, tín ngưỡng do tư tưởng kinh
tế chính trị xã hội … đều do văn hóa chỉ đạo, kể cả mọi nếp sống khác.
4. Chính trị : ý thức chính trị
manh nha từ tín ngưỡng trong thời kỳ “Thần tắc”, từ phiếm thần đến đa thần rồi
tới độc thần, biểu hiện ra tổ chức từ
tộc trưởng, bộ tộc bộ lạc có tù trưởng lãnh chúa tiến tới thống nhất các bộ tộc
bộ lạc thành một quốc gia, có vua quân vương hoàng đế đứng đầu cai trị, đó là từ
thời kỳ “Thần tắc” chuyển qua “Đế tắc”, ông hoàng đế thay Trời (độc thần) cai
trị dân là thời kỳ chế độ quân chủ xuất hiện, từ Thần tắc (độc thần) chuyển qua
Đế tắc (một ông vua), và tiến hóa ý thức chuyển sang “Danh tắc”, là thời kỳ tư
duy trí tuệ con người tiến lên cao độ, cực cao độ với những phát minh xây dựng
sáng tạo rực rỡ xuất hiện, những dấu tích xưa còn tồn tại đến bây giờ. “Danh tắc”
có ý nghĩa Triết học là danh gia, danh xưng, danh tiến, chính danh, hữu danh …,
tức là pháp tắc định tắc. Với những nền văn minh sáng chói, những di tích kỳ
quan lịch sử như Kim tự tháp, vườn Babylon, tượng thần Zeus, thần Mặt Trời ở
Rhodes …và biết bao nhiêu sáng tạo, xây dựng, nghệ thuật cao siêu tuyệt đỉnh
còn tồn tại, mà cho tới hiện nay cũng không làm sao so sánh được, đều xuất hiện
trong thời kỳ “Danh tắc” để từ “Danh tắc” chuyển sang thời kỳ “Dân tắc” cho tới
hiện nay.
Sự tiến hóa có trình tự như về kinh tế
từ “Duyên sơn” đến “Duyên giang” rồi “Duyên dương” từ Du cư Du mục Du canh tiến
đến nông nghiệp rồi công nghiệp kim long công nghiệp, và nay đang quay về
“Duyên sơn” với ý nghĩa khác, trong đó có vấn đề quốc phòng khai khoáng, định
luật tiến hóa không ngừng, văn hóa, hinh tế, chính trị, xã hội … đêu tiến hóa
theo mỗi chu kỳ, sở dĩ có chu kỳ chính do nấc tiến tiến hóa, bởi bất cứ một
sáng tạo nào kỳ diệu hay sáng chói thì với thời gian và quy luật tiến hóa sẽ trở
thành xưa cũ, nó dẫn tới nút bế tắc, nút bế tắc này vi diệu bởi tiềm ẩn trong lịch
sử bộ sậu, cứ tiềm ẩn tích lũy có trình tự, nhưng bề ngoài thế sự nhiễu tạp đa
đoan nên khó nhận nhận biết được, như thế giới hiện nay đang kết thành nút bế tắc
sâu rộng nhất. Một biến cách toàn cầu không sao tránh được mà mọi mặt từ tín
ngưỡng, văn hóa, nghệ thuật, kinh tế, chính trị, xã hội đều lâm vào hoàn cảnh khủng
hoảng, nhất là vấn đề xã hội, vấn đề quá rộng lớn và khẩn thiết là do văn hóa
phát sinh. Mượn mấy câu mô tả giản lược như
“cần nghiên cứu hai từ: VĂN –
XÃ, suy nghiệm gồm mọi ngã tương quan, bởi đang sôi sục doanh hoàn,
tìm Xã hội mới an toàn dài lâu, cuộc biến cách tất cầu, sáng khởi phát minh nền
Văn Hóa mới dần dần ảnh hưởng chung cùng bốn bể năm châu, cho thỏa mãn yêu cầu”.
Xã hội loài người đang tiến trong thời
kỳ Danh tắc - Dân tắc.
Bàn thêm vấn đề Xã hội : tiến hoá xã hội
y theo vòng xoáy tiến hóa vũ trụ, nhưng vì có tư tưởng giới tham dự, nên có những
chu kỳ biện chứng, chính đó là quy luật tiến hóa, cứ mỗi chu kỳ rồi lại lâm vào
bế tắc, giải cái nút bế tắc đó là mộ biến cách Cách mạng. Để giải quyết nút bế
tắc xã hội hiện nay đang tới thời kỳ cực độ bế tắc, tất yếu phải có một sáng tạo
mới thích hợp, nguyên nhân của sự bế tắc này rất xâu xa, trong bài này không
nói rõ được vì quá rộng và quá dài. Luận
sơ từ thời “Dân tắc”, cụ thể biểu hiện ra các chế độ chính trị gọi là “Dân chủ”
tiến đến từ cuộc biến tại nước Pháp Âu Châu thế kỷ thứ 16, gọi là Ba lê (Paris)
công xã …, để rồi tiến tới Thế chiến I mà cuộc Cách mạng tháng 10 của Nga Sô xuất
hiện, thành lập Đệ tam Quốc tế Cộng sản chủ nghĩa Marx Lenin do Lenin lãnh đạo,
với chủ trương đấu tranh giai cấp, tiến tới đích thứ nhất thực hiện Xã hội chủ
nghĩa vô sản chuyên chính …, để rồi tiến lên mục đích Cộng sản là vô sản toàn
thế giới, Xã hội vô giai cấp (chỉ có một giai cấp Vô sản) …thực tế ý nghĩa của
giai cấp xã hội chỉ là cái bệnh bệnh thái phát sinh từ khi có trang điền với chế
độ nông nô, công nghiệp phát triển với chế độ chủ thợ …, nó liên hệ tới kinh tế,
chính trị, xã hội trên phần cộng hợp tác hỗ tương, đó là ý nghĩa của “Xã Hội tự
tánh” loài người vốn tự có sau “Nhân tính” (đề xướng đấu tranh khác nào lấy bệnh
trị bệnh, cho bệnh càng thêm nặng). Lây một hài nhi làm thí dụ cho loài người
khi mới xuất hiện như : con người có ba (3) “Thiên tính”. Thiên tính thứ nhất
là Thiên chân như hài nhi mới lọt lòng, hồn nhiên vô cầu vô dục …, Thiên tính
thứ hai là Nhu yếu tính, ví như đói khóc đòi ăn, no ngủ yên (hàm ý kinh tế),
Thiên tính thứ ba là Xã hội tính, như vui thích khi có người ẵm bế vỗ về, người
ẵm bế đã hàm tính Xã hội, bởi xã hội có nghĩa là có liên hệ với tha nhân (Xã hội
không biên giới, quốc gia có biên giới).
A. 
Lược luận về nguồn gốc chủng tộc Bách Việt *: Một
số người liên hệ huyết tộc chạy thoát sau trận Đại hồng thủy lên vùng Tây Tạng
– Parmia – Tu Di sơn và Hy Mã Lạp sơn, mỗi ngày sinh sôi nẩy nở thêm nhiều, cần
tìm sự sinh sống trải qua thời kỳ nhặt hái Du cư và thời kỳ săn bắn Du mục, với
kinh nghiệm sống và ngày càng sinh sôi nẩy nở thêm nhiều cùng với tư duy tiến
hóa, qua thực nghiệm biết ươm trồng là cần có nước, đất cần mềm và ẩm ướt, cho
nên tìm xuống miền có sông ngòi là con sông Hoàng Hà, chảy từ miền Tây Tạng xuống
vòng lên phía Bắc rồi lượn xuống dưới chảy ra biển về hướng Đông Bắc thuộc tỉnh
Sơn Đông nước Tầu ngày nay. Thời đó hoàn toàn hoang dã. Những người di cư xuống
đồng bằng đã phát triển nghề nông ngư …, ngày càng trở thành phồn thịnh, ở Sơn
Đông có giải núi Thái Sơn, người cổ Việt chiếm Thái Sơn làm Cơ đại, Hoa địa đã
biết lập đàn Tế Thiên (xem Việt sử DD Thông luận có nói rõ). Thời kỳ này thuộc
“Thần Tắc – Đế Tắc” rồi qua “Danh Tắc”, trình độ tư duy trí tuệ của con người rất
cao, do còn lưu truyền lại những di tích tài liệu vào thời kỳ đó như sau : Bào
Hy trị tức Phục Hy cổ thánh, là sáng tổ của Dịch học là môn học gồm đủ mọi
phương diện cổ học, bao hàm vạn tượng khởi từ nét vạch rồi ra nét hình thành hai nghi biểu tượng Dương và
Âm, lại cũng là sáng tổ của môn phái Y học với quyển “Thiên Nguyên Ngọc sách”
cũng chỉ mới truyền lưu bằng khẩu truyền (nói rõ sau), khi đó chưa có nòi giống
Hán. Tới thời Viêm Đế Thần Nông là một thủy tổ về ngành nông nghiệp (dậy dân
phương pháp nghề nông), và cũng lại là thủy tổ ngành dược khoa với cuốn “Bản Thảo”,
tức là đầu tiên biết phối hợp dùng các loại cây cỏ để trị bệnh, hiện còn lưu
truyền đến hiện nay.
B. Nòi Hán xuất hiện, một giống người từ vùng Cận
Đông, vịnh Ba Tư còn sống Du mục bằng nghề săn bắn tiến vào vùng Tây Bắc nơi
Cam Túc Ninh Hạ nước Tầu hiện nay, sống bằng nghề săn bắt có tổ chức với sức mạnh
thiện chiến, đi đến nơi thấy dân bản địa sống nghề nông phồn thịnh lại hiền
hòa, khiến họ tiến đánh chiếm dần, dân bản địa được an hưởng đã lâu lại chia nhỏ
hàng trăm ngành (nhóm), không quen chiến đấu nên cứ lui dần về miền trung có
con sông Dương Tử, nay gọi là Trường Giang, bờ Nam có Ngũ Hồ Ngũ Lĩnh, tới đời
cổ thánh Viêm Đế Thần Nông, nòi Hán đã xâm chiếm địa bàn của dân Việt, mà hầu hết
từ bờ Bắc Trường Giang trở lên trên. Đây thuộc về “Hỗn hóa thời kỳ”, ước phỏng
trên dưới 10.000 ngàn năm, thời kỳ “Đế tắc – Danh tắc”. Một phần dân cổ đại
Bách Việt ở lại, sau bị đồng hóa dần. Trong thời kỳ “Đồng hóa” thì nòi Hán đã
có Hiên Viên thị Hoàng Đế, gần ngay sau thời Viêm Đế Thần Nông không xa mấy, ước
đoán là trận đánh đẫm máu giữa Suy Vưu – Hoàng Đế, mà Suy Vưu là con của Viêm Đế
đại biểu cho giống nòi Bách Việt, trận đánh tại vùng Trác Lộc trong bẩy năm máu
sông xương núi không phân thắng bại, khiến Hoàng Đế phải lập đàn có hình tròn
vuông biểu tượng Trời Đất Âm Dương, do đã chiếm được địa bàn và học được cách sử
dụng của người cổ Việt, để tế lễ trời đất quỷ thần cầu phù trợ làm khích lễ
tinh thần tướng sĩ rồi mới thắng được trận đánh đó. Suy Vưu đại bại thì dân cổ
Việt coi như bị tước đoạt hết mọi mặt, kể cả người còn ở lại vùng bị chiếm
đóng. Còn từ bờ Nam Dương Tử về sau còn một trận đánh tranh hùng giữa Tây Bá Sở
Vương là Hạng Vũ với Lưu Bang tức Hán cao tổ, Hạng Vũ thế cùng tự sát tại bờ Bắc
Ô Giang, thế là nòi Hán chiếm hết cho tới biên giới Việt Hoa ngày nay. Tuy có một
thời rộng tới cả Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Tây… cho xuống tới đảo Hải Nam,
nhưng đó lại thuộc thời của Tiểu Việt (Lạc Việt) ta ngày nay.
Nói
rõ thêm về “Thiên Nguyên Ngọc sách” và “Bản Thảo” tức là Dược Khoa cổ nhất hiện
nay của vua Thần Nông dậy dân nghề nông có phương pháp khoa học tiến bộ nhất
trong thời kỳ cổ đại.
Căn
cứ bộ “Y Học nhập môn” cổ xưa nhất và đầy đủ nhất, kể từ thời sau Hoàng Đế, đông y giới người Việt xưa coi
trọng vì có đủ mọi mặt, kể cả Y, Lý còn có tên gọi tắt là “Hiên Kỳ”, nguyên lai
như sau (rút gọn), trong đó có mục đề là “thượng cổ thánh hiền” dưới chú thích:
“Tam đại dĩ tiền thánh quân hiền tướng
vi ý dĩ tế tử sinh lai dã”, đại ý : “trước đời Tam đại (tối thượng cổ)
vua Thánh tướng Hiền làm thuốc để giúp tử sinh (trị bệnh).
1. Phục Hy thị: chú thích “Hữu
Thiên Ngọc sách” nãi Quỷ Du Khu, thập thế tổ, khẩu tụng nhi truyền chi. Đại ý :
họ Phục Hy có quyển Thiên Nguyên Ngọc sách, là tổ mười đời của ông Quỷ Du Khu,
chỉ truyền bằng miệng (chưa có văn tự). Sacxh Tố Vấn chép nhiều câu trong sách
này.
2. Hoàng Đế thị : chú thích “dữ
hạ cửu nhân, canh tương vấn đáp, tác Linh Khu Tố Vấn. Đại ý : Hoàng Đế cùng với
cửu (chín) người dưới (bày tôi), cùng thay nhau vấn đáp, làm ra quyển Linh Khu
Tố Vấn.
3. Kỳ Bá : người này đáp mỗi
câu gì mà Hoàng Đế hỏi về Y khoa, sau đó gọi tắt là Hiên Kỳ.
4. Có ba tên : Bá Cao, Thiếu
Du, Quỷ Du Khu chú thích “Hoàng Đế tam thần dã” là ba bầy tôi của Hoàng Đế vậy,
phát minh Ngũ Hanh, tường luận mạnh lý, dĩ vi Kinh Luận”. Nghĩa : ba người này
phát minh Ngũ Hành luận rõ về mạnh lý, lấy đó là thành sách Kinh Luận (thảo luận).
Trong
bộ Uyên Hải Tử Bình, thuộc sách về Lý Số học, có chép rõ trận đánh tại Trác Lộc
giữa Suy Vưu và Hoàng Đế, Hoàng Đế phải đắp đàn hình tròn vuông tượng trưng cho
Trời Đất Âm Dương, và ghi Suy Vưu là con của vua Viêm Đế, chú thích thêm là Suy
Vưu là loài yêu quái ghê gớm (ý miệt thị nòi giống Việt). Các loại sách chuyên
khoa thuộc loại “cưu lưu thuật sĩ”, người Hán vô tình sơ ý không xuyên tạc như
các loại sử học đã xuyên tạc về nguồn gốc thật, cho nên người viết sử Tầu không
có đầu đuôi lộn xộn và làm sai lạc về ngồn gốc giống nòi Bách Việt. Lại còn nhận
Viêm Đế với Hoàng Đế là thủy tổ của nòi Hán như câu : “ngã quốc nhân vi Viêm
Hoàng đích miêu duệ”, có nghĩa là : người nước ta đích thực là nòi giống của
Viêm Hoàng (cũng có nghĩa là gồm cả hai nòi giống Việt Hán vơ chung vào làm một).
C. Nguồn gốc nòi giống Hồng Lạc,
phần trên gọi là Tiểu Việt là để đối với Đại Việt (Như giống dân Âu Việt 甌越 thì ở Chiết Giang 浙江, Mân Việt 閩越
thì ở Phúc Kiến 福建, Dương Việt 陽越 thì ở Giang Tây 江西, Nam Việt 南越
thì ở Quảng Đông …) đã đành, còn vì lẽ nữa quan trọng và có ý nghĩa sâu xa như
sau, cần chú ý đặc biệt.
v Hồng Lạc là ngành trưởng
trong trăm ngành của chủng tộc Bách Việt, được thụ mệnh chân truyền chính thống,
căn cứ ngoại sử, cổ sử, truyền thuyết, thần thoại, phong tục tập quán lưu truyền
cho tới hiện nay tại các địa phương, với các di tích lịch sử còn lưu lại, thì
thủy tổ nòi giống Hồng Lạc là cháu bốn đời của vua Viêm Đế Thần Nông.
v Danh hiệu Hồng Bàng Thị鴻龐氏, Kinh Dương Vương京 (經) 陽 王. Cần
suy nghiệm phân tích sâu xa, để rồi siêu nghiệm từ danh hiệu đến nội dung hàm
tàng có tính chất huyền tượng siêu tượng của hai chữ Hồng Bàng 鴻龐 : chữ Hồng do chữ giang 江 ghép với chữ điểu 鳥 là chim, chim Hồng trên sông nước, to lớn (cùng nghĩa với
chữ hồng 洪 bộ thủy 水 : to lớn cao cả, hồng lượng 洪量 lượng cả, hồng phúc 洪福 phúc lớn.). Chữ Bàng thuộc bộ an (nghiễm, yểm) 广 (giãn thể của chữ quảng 廣 : rộng, mở rộng), trong có chữ long 龍 là rồng. Ý nghĩa về hình thức cụ thể như : Hồng là con
chim Hồng, Hồng Nhạn cao phi, chim Hồng chim Nhạn bay cao, Hồng Hộc chi chí,
chí khí lớn bay cao xa như chim Hồng, chim Hộc (ngỗng trời), hồng đồ đại kế hoạch
(hồng chí : chí khí lớn, hồng nghiệp : đế vương đại sự nghiệp) …, và chữ Bàng :
龐大 rất to lớn, kế hoạch
bàng đại, quảng đại.
v Còn chữ Kinh Dương Vương 京 (經) 陽 王: chữ
kinh 京 này có nghĩa là : to lớn,
là kinh đô, kinh kỳ, kinh sư đất rộng lớn nhiều người Còn chữ kinh經này có nghĩa là : đạo thường, đạo đức pháp luật đã định
không thể thay đổi được gọi là kinh, như : thiên kinh địa nghĩa 天經地義 nói cái đạo thường như trời đất
không thể di dịch được, tài lược kinh quản. Kinh sách như : như Thi Kinh 詩經, Thư Kinh 書經, Hiếu
Kinh 孝經... Về khoảng trời không
gian và quả đất thì lấy con đường Nam Bắc cực chính giao với xích đạo gọi là
kinh, như kinh tuyến 經線
theo hướng Nam Bắc, vĩ tuyến 緯線
theo hướng Đông Tây... . Chữ Dương陽có
nghiã là : mặt trời, thái dương, dương quang, hướng Nam , mặt núi phía nam cũng gọi là
dương. Như Hành dương 衡陽
phía nam núi Hành… . Đó là những ý nghĩa hình thức cụ thể, nếu kết hợp với tượng
hình hai chữ Hồng Bàng 鴻 龐 này gợi lên ý chim Hồng bay bổng trong không gian, có Thần
Tiên ở cõi trên trong trời xanh thẳm, gợi ý bên bờ một giải núi phía Nam có
hang động của con rồng thiêng ẩn phục ở bên trong, hoặc Tiên仙gia tu luyện trong núi … thấy phảng phất ẩn dấu bên trong
hai chữ nghi biểu Tiên Rồng 仙 龍 là nghi biểu, hèm, totem, phạm trù… của giống dân Lạc Việt,
để rồi đi tới hiện thực thực tiễn biểu hiện ra là tổ phụ Lạc Long Quân với tổ mẫu
là Âu Cơ thuộc dòng Vụ Tiên (Thái) tức là hai ngành Lạc Việt với Âu Việt kết hợp
lại thành dòng giống Lạc Hồng.
v Từ siêu huyền linh tượng dẫn
tới hiện thực biểu hiện nên nguồn gốc là như vậy, nhưng còn về phần triết hệ, ý
thức hệ, triết lý, minh triết, minh lý hàm tàng ở bên trong phạm trù Tiên Rồng
do thánh minh quốc tổ Việt đã sáng tạo ra, dấu ngầm trong đó thật là cao thâm
viễn đại, bao hàm tất cả mọi ngành triết học cổ kim Đông Tây, (may) nhờ (sau
này) có (được một) siêu nhân xuất thế mới bừng ngộ làm sáng tỏ mật ý tổ hồn dấu
ẩn kín từ muôn năm xưa, trong tập “Nền tư tưởng cổ Việt” có giải luận sơ lược
nhưng rõ ràng với đôi đối này đã nêu ý nghĩa với cách giản hóa.
Vô, Nhất, Đa nguyên bừng giác ngộ Tiên
Rồng sáng tỏa
Nhiên, Nhân, Dân hệ mở phong trào Xã hội
yên vui
Tới
đời vua Hùng thứ sáu, có thuyết bánh chưng bánh giầy, lược bỏ đi phần hình thức
lễ nghi để tiến sâu vào siêu thức, thì bánh giầy tròn mầu trắng, bánh chưng
vuông mầu ngoài xanh trong vàng, tiềm ẩn hiện ra hình tượng hai chữ Tiên Rồng với
Âm Dương, động tĩnh, vật chất, tinh thần và Vô, Nhất, Đa nguyên …, đến cuối tới
đời vua Hùng Vương thứ mười tám đức Tản Viên Sơn thánh lại sáng khởi lên thuyết
sách ước gậy thần, lại càng làm sáng tỏ thêm đầy đủ thêm triết lý ẩn trong hai
chữ Tiên Rồng, đó là thần vật hóa mà phải nhờ có được bậc siêu nhân thánh trí mới
khải ngộ được.
Ngành
Hồng Lạc là ngành trưởng trong trăm ngành sắc tộc Bách Việt, được thụ mệnh chân
truyền chính thống, uyên nguyên truyền thống nên phải nhận gánh vác sứ mệnh và
trách niệm tối thiêng liêng và vô cùng nặng nề lâu dài để bảo tồn giống
nòi, và những gì các bậc Tiên Thánh của giống nòi đã mật tàng hay minh thị từ
muôn xưa để lại.
Cơ trong mật lý nên thần dụng
Đạo ở nhân tình chớ dị đoan
Trích trong
bài Tiên Long châu hành
Với
sứ mệnh và trách nhiệm vô cùng nặng nề đó, nên nước Lạc Việt đã bao phen tưởng
như bị đồng hóa tiêu vong hay gắt sau trận chiến Trác Lộc đẫm máu, trận Hán Sở
tranh hùng, và hơn ngàn năm Bắc thuộc với nhiều trận chiến gian khổ để giành lại
tự chủ độc lập …, liên tiếp những đời nhà Tần, Hán, Đường, Tống, Nguyên, Thanh
… xâm đoạt thiêu hủy vậy mà nước Tiểu Việt - Hồng Lạc (Lạc Việt)ngành trưởng vẫn
tự chủ quật khởi đánh đuổi giặc Hán xâm lăng, bao phen đất nước trải qua đẫm
máu tang thương mà rỗi vẫn còn tồn tại oai hùng. Kể từ vua Đinh Tiên Hoàng đặt
quốc hiệu là Đại Cồ Việt, tiếp đến các đời tiền Lê, Lý, Trần, Lê đều xưng quốc
hiệu là Đại Việt ** (bỏ chữ Cồ), cho đến dời nhà Nguyễn vua Gia Long tới
nay mới đổi quốc hiệu là Việt Nam cho tới nay.
Cần
minh định hai chữ Việt để sau này sẽ nêu ra làm sáng tỏ cội nguồn, chữ Việt này
粤 (thuộc bộ Mễ : Nước Việt,
đất Việt, cùng nghĩa như chữ việt 越. Tỉnh
Quảng Đông 廣東, Quảng Tây 廣西 nguyên trước là đất của Bách Việt 百粵, nên Tàu họ gọi hai tỉnh ấy là tỉnh Việt) thời cổ Việt
di truyền mới là danh hiệu của giống nòi Việt, bên trong có chữ Mễ 米 là lúa gạo liên hệ đến nông nghiệp thời vua Thần Nông với
nhiều hình tích lưu lại trong sách xưa như : Việt Hán thiết lộ 粵漢鉄路 đường xe lửa Việt Hán, chữ Việt粤 tức là cổ đại Đông Di chủng tộc (cách nhà Hán gọi các chủng
tộc khác là Man, Di …, Việt Đông Việt Tây với Việt Kê cổ từ thời Đế Nghiêu … đều
là chữ Việt粤, cả miền Nam Trường Giang
còn lại dấu tích, bia mộ, sách vở … bên Tầu đều đã dùng chữ Việt 粤.
Với
danh hiệu Việt Nam越南ngày nay, là chữ Việt 越 (thuộc bộ tẩu) tuy có ý nghĩa là ưu việt, siêu việt, vượt
qua … (cũng có một số tên nước Việt dùng chữ Việt越này ở vùng Ngô Việt tỉnh Triết Giang ở phía Đông Nam nước
Tầu), còn có thuyết cho rằng nòi Hán ngụy tạo ra do sách vở của họ có ý ngầm miệt
thị, mỉa mai dân tộc Bách Việt thua chạy về phái Nam như chó chạy, vì do có chữ
Tẩu 走 là chạy ghép với chữ Tuất
(tuổi Tuất) là chó 戌 thành
chữ Việt 越, đúng sai sẽ sau này sẽ rõ
…
Thuyết
“nhất bào sinh bách noãn, ngũ thập quy sơn, ngũ thập quy hải”, có hàm chứa hai
ý nghĩa : một là giống nòi Bách Việt phân cư để trành nòi Hán đồng hóa, hai là
tuy chia trăm ngành nhưng cùng một đồng bào (chủng tộc) một tổ sinh ra, cần
cùng nhau đoàn kết thương yêu bảo vệ sự sống còn, cùng chung nhau mở mang bờ
cõi, cùng đùm bọc nhau để phát triển …(hạt máu đào hơn ao nước lã). Mai đây sẽ
vận động toàn vùng Đông Nam Á để kết hợp thành một khối là điều tất yếu.
Đã
gần bốn mươi năm kể từ năm 1943 -1944 đã tiên đoán thế giới tất nhiên và tất yếu
sẽ tiến tới thành lập những tập đoàn (khối) ở mỗi vùng, nhưng phải trải qua “giả
thành lập” là do các cường quốc đế quốc mưu đồ lợi dụng trước đã, cũng gọi là
“tập đoàn an toàn giả”, cũng là do xu thế tất yếu, cho nên “giả sẽ hóa thật”,
bao khối tập đoàn giả lập, rồi sẽ hoặc tự tan vỡ như năm nước “liên phòng Đông
Nam Á”, cũng như “thị trường chung châu Âu” đã trở thành tập đoàn an toàn chân
chính. Khi nào cuộc vận động trong vùng phát khởi, trước hết phải có “tối cao
chỉ đạo” là “nền Văn Hóa cộng đồng” đúc kết nên, qua nhào nặn gạn lọc lấy những
tinh hoa của mỗi nước trong vùng đã được cùng nhau công nhận để làm kiêu mẫu
cho nền Văn Hóa Cộng Đồng rồi sẽ tiến dần tới “Thế giới Đồng Nhân” sau này, đó
là mục đích tối thượng “viễn tức cứu cánh mục đích”, sẽ hoàn thành khoàng cuối
(hoặc sau) năm 2000. Vùng Đông Nam Á sau khi đã thành lập được tập đoàn (khối)
rồi sẽ tiến tơi “Đại Nam Hải Liên Bang Cộng Hòa”, đó là dự kế của “Đại đồng Tiểu
dị”.
Luật
tiến hóa đi đôi với luật tuần hoàn, sẽ trở lại thời kỳ “Đế tắc” tức là thời “Đế
tắc – Dân tắc” nhưng tiến hóa tân kỳ đặc dị, ví dụ như : chế độ “Quân Dân cộng
nhiệm” hay “Quân Dân phân nhiệm” (một dạng như Quân chủ lập hiến, Quân Dân lập
hiến) … và không còn tranh chấp (vì vua cũng phải tôn trọng luật, pháp luật là
tối thượng) để đạt tới hòa hài. Vận hội là những chu kỳ tiến hóa, có Đại vận hội,
Trung vận hội, Tiểu vận hội, cũng gọi là từng chu kỳ, sở dĩ có là do Biện chứng
tiến hóa từ Vũ trụ vào Xã hội loài người đều tiến hoá theo vòng xoáy, nhưng tiến
hóa của Xã hội có tư tưởng giới tham dự, có những chu kỳ của cấp trung vào khoảng
500 năm (tiểu và thập niên),
Ngược
dòng sống sử của nòi giống Lạc Hồng, thấy một vận hội suy vi tới nay đã khoảng
3000 năm, kể từ khi Thục An Dương Vương cướp ngôi vua Hùng, thánh Tản Viên Nguyễn
Tuấn bỏ đi tu tiên với câu chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh (không thẩy xoay chuyển được
cơ trời vận suy), đó là vì dong Âu Việt cướp ngôi dòng Lạc Việt, với Loa Thành
và Nỏ thần chứa đầy sáng tạo tân kỳ, nhưng chưa được bao lâu thì mất nước vào
tay Triệu Đà nòi Hán. Tới đời vua Đinh Tiên Hoàng lập nên triều nghi chế độ, rồi
kế tiếp các đời nhà tiền Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn … có mấy lúc thật sự độc lập
mà không bị triều cống xưng thần hay chèn lấn đâu ? (có nào thời gian thật sự
được yên ổn thái bình lâu, nếu không bị triều cống để được yên ổn một thời
gian, thì lại bị xâm lăng chèn lấn giặc trong thù ngoài luôn làm bất ổn, không
thể xây dựng kiến thiết được một xã hội nhân bản hùng mạnh như thời vua Hùng),
hơn nữa từ khi vua Lê Thánh Tôn băng hà cho tới nay đã 500 năm luôn bất ổn loạn
ly chưa dứt, đó chính là cái vốn liếng đau nhục để kết tinh và để “chung linh dục
tú” (đúc kết thúc đẩy tạo thành linh khí), để rồi sẽ “đỉnh xuất siêu nhân” (tột
đỉnh xuất hiện ra siêu nhân), làm sáng khởi tao thành một nên Văn Hóa Mới để
làm Tối Cao chỉ đạo đưa dân tộc và xã hội vào kỷ nguyên thái hòa.
Lịch
sử bộ sậu diễn biến có trình tự thứ đệ,(1) không như thời sự nhiễu tạp. Như đã
nói, hiện nay đang thời “Danh tắc” – “Dân tắc”, chế độ đế chế chuyển sang chế độ
dân chủ, đang tiến tới cực cao điểm là Xã hội chủ nghĩa phát sinh, để tiến tới
một khối các nước theo chủ
nghĩa xã hội theo ý thức hệ Mác-Lê, với người theo chủ nghĩa cộng sản xuất
hiện, ẩn hiện hầu hết khắp
năm châu, cơn sốt dân chủ của thời kỳ “Dân tắc - Danh tắc”
đã tới thời kỳ cực điểm
khiến nhân loại phát điên
cuồng! (để rồi “nhân loại thức tỉnh triệt để đến đáy tầng của
dân tộc” cái chủ nghĩa cộng sản thực sự là phản nhân bản) Một biến
cách tất nhiên và tất yếu sắp xẩy ra dể cởi nút kết bế tắc vi diệu. cơn điên sốt dân chủ do Văn a tối cao chỉ đạo chính là do
chủ nghĩa Mác-Lê đã dẫn khởi lên (và ngày
nay thực sự đã tàn lụi).
Cơn điên sốt dân chủ do văn hóa tối cao chỉ
đạo là chủ nghĩa Mác Lê phát khởi đó. Luật tiến hóa lại đi đôi với luật tuần hoàn
nên sẽ trở lại thời đế chế
nhưng vì tiến hóa nên sẽ là
“Dân tắc – Đế tắc” (“quân dân công nhiệm”) hoặc “quân dân cộng chủ” hay gì
tương tự nghĩa đó) (2).
Một
sáng tạo tân kỳ cao thâm viễn đại xuất hiện, để dẫn khởi thực hiện thời đại mới,
dựng nền văn minh mới cho dân tộc và xã hội đạt tới hài hoà tươi sáng chung cho toàn cả giới loài người, phải có dự kế để thẩm thấu thấm nhuần do thời
gian; cho nên một nhỡn quang (tầm nhìn xa rộng) tiên kiến
đón đầu đi trước, để nắm đúng thời cơ chân chính, và tối hậu là điều kiện tối cần
và tối hệ trọng không thể thiếu. Bởi đó như trên đã nói: Một kết tinh “đỉnh xuất
siêu nhân”…”siêu phàm nhập thánh” mới có thể đảm đương sứ mệnh và trách nhiệm vô cùng vĩ đại này tạo sự nghiệp trọng đại thâm
viễn (sâu xa) từ cổ tới kim chưa từng có như thời đại này. Vì vậy một
nhỡn quang tiên kiến đón đầu đi trước 40 năm chỉ là vừa đủ, cho thấm nhuần thẩm
thấu sâu rộng để thích ứng
thới cơ.
Mùa Xuân Tân Dậu, 1981
Việt Đăng
____________________
Ghi Chú (của người đánh máy)
(1) thứ đệ
nghĩa là từ trên xuống dưới.
(2) Ngày nay nhiều
nứơc theo chế độ “quân chủ lâp hiến”.
21:54 | 0
nhận xét | Read More